Liên hệ
Hotline: 01252791989 01252791989

 Hãy tận hưởng cuộc sống của bạn

HOTLINE: 01252791989
Điều hướng AutoPart

Trà nụ tam thất - Trà của người Việt

5/10/2015


Việt Nam là xứ sở của cây Trà, người Việt cũng có truyền thống uống Trà từ rất lâu đời, dù đã cố công tìm kiếm trong các thư tịch cổ nhưng vẫn chưa thấy 1 tài liệu nào đề cập đến Trà trước đời Lý (1010–1225). Dù biết chắc chắn rằng không phải đến đời Lý Trà mới xuất hiện ở Việt Nam.

 Theo một số tài liệu khảo cứu của Ủy ban khoa học xã hội thì người ta đã tìm thấy những dấu tích của lá và cây chè hóa thạch ở vùng đất tổ Hùng Vương (Phú Thọ). Xa hơn nữa, họ còn nghi ngờ cây chè đã có từ thời kỳ đồ đá Sơn Vi (van hóa Hòa Bình). Cho đến nay, ở vùng Suối Giàng (Văn Chấn – Nghĩa Lộ – Yên Bái), trên độ cao 1000m so với mặt nước biển, có một rừng chè hoang khoảng 40. 000 cây chè dại, trong đó có một cây chè cổ thụ lớn nhất, ba người ôm không xuể. Đã có những kết luận khoa học trong và ngoài nước khẳng định rằng: Việt Nam là một trong những “chiếc nôi” cổ nhất của cây chè thế giới.

 Lược trang quốc sử, qua các đời Ngô – Đinh và tiền Lê rồi sang đến đời Lý (1010–1225) thì Trà đã có một vị trí quan trọng trong văn hóa giao tiếp. Trà trở thành một thức uống trang trọng và tao nhã của giới tăng lữ, quý tộc và trí thức của xã hội. Trà được dùng trong giao tiếp thường nhật và các nghi thức ngoại giao, được dùng để đãi và làm quà biếu.

 Đời vua Lý Nhân Tông (1072–1127), Thiền sư Viên Chiếu (999–1091) là con của anh Thái hậu Linh Cảm – vợ Vua Lý Thái Tông có làm hai câu thơ:

“Tặng quân thiên lý viễn.

Tiếu bả nhất bình trà”

Nghĩa là:

“Tiễn người cất bước đường xa

Miệng cười dâng một bình trà tặng nhau”.

(Viên Trân dịch)

 Đời nhà Trần, văn hóa trà phát triển cực thịnh và được nhắc đến khá nhiều trong các áng thơ văn. Trà càng phổ biến rộng rãi hơn trong thời Lê (1428–1788), được khá nhiều danh nhân nổi tiếng yêu thích và đưa vào các tác phẩm của mình như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Khản, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Năm 1778, dưới thời Tây Sơn, một nhà hàng hải người Anh – ông Chapman đã ghé qua Nam kỳ và viết lại trong một tác phẩm của mình rằng: “Đượng bộ tứ hải cảng Quy Nhơn đến hoàng thành của Nguyễn Nhạc, đi qua làng nào cũng thấy có những hiệu bán trà”.

 Khi quân của Nguyễn Huệ tiến công ra Bắc đuổi đánh quân Thanh, mỗi người được cấp trà mỏ quạ mang theo bên mình uống mỗi ngày nhằm đề phòng sơn lam, chướng khí, ăn uống không hợp thủy thổ mà sinh bệnh chói nước. Đồng thời trà mỏ quạ còn giúp cho quân lính tỉnh táo hành quân thần tốc, khiến cho quân Thanh trở tay không kịp, xương vùi trắng cả gò Đống Đa, ngàn năm ôm hận.

 Từ thời Pháp thuộc, tục uống trà có phần giảm đi. Tuy nhiên, Pháp vẫn chú trọng đến phương diện kinh tế của trà nhờ vậy mà nghề trồng trà tăng tiến hơn nhằm mục đích xuất khẩu. Những miền sản xuất trà có Phú Thọ, Thái Nguyên, Bảo Lộc, Đà Lạt (Lâm Đồng)… Mặc dù thế, nhưng cái tinh thần của trà lụi tàn dần để rồi Nguyễn Tuân chỉ còn nhắc lại trong “Vang bóng một thời”.

 Người Việt Nam ai ai cũng biết uống trà và sử dụng trà. Trà cúng trời, đất trong phút Giao thừa thiêng liêng, hương trà nhè nhẹ thoang thoảng xen lẫn vào hương trầm, hương mai trên bàn thờ tổ tiên. Trà dâng lên cúng Phật thơm ngát nhụy sen thanh khiết. Trà được mời nhau cung kính và trang trọng trong những dịp lễ đặc biệt như: Quan–Hôn–Tang–Tế… Trà dùng để tiếp khách và biếu xén, trà là nhịp cầu kết nối khách tri ân, người tri kỷ lại với nhau…

 Chính vì trà được sử dụng ngày càng rộng rãi như thế nên người Việt ngày càng chế biến được các loại trà cao cấp và có thương hiệu ổn định. Những loại trà Tàu, trà sen, trà ướp hoa thủy tiên,ngọc lan,quế hoa… được chế biến rất kỳ công, tỉ mỹ nên giá thành rất đắt chỉ có tầng lớp thượng lưu, quý tộc mới có thể mua nổi.

 Những người trung lưu và thường dân thì dùng các loại trà bình dân và rẻ hơn, đó là những loại trà như: Trà nụ, trà buồm, trà tươi… được sao chế giản dị, hình thức đơn giản hơn rất nhiều. từ đó mà nền văn hóa Trà Việt Nam chia ra thành hai dòng rõ rệt. Đó là dòng văn hóa trà dân gian và dòng văn hóa trà bác học (hay còn gọi là quan trà).

 Văn hóa trà dân gian gắn liền với đời sống thường nhật của tầng lớp nông dân, lao động, gắn liền với ruộng lúa, con trâu, cái cày, mái tranh, chái bếp… Đó là ấm chè tươi được nấu trong ấm đất hay nồi nhôm… có mặt thường trực trong nhà của hầu hết các gia đình nông thôn Việt. Người ta uống trà bằng bát đàn ăn cơm, bằng chén đất, tô sành… Đó là bát chè được người nông phu uống vào buổi bình minh sau khi ăn chén cơm hay củ khoai dằn bụng trước khi đi làm đồng. Là bát chè uống lúc ban trưa dưới bụi tre xanh mát mẻ giữa một vùng lúa xanh bất tận, gió bạt ngàn chan chứa tình quê sau một buổi cày mệt nhọc có người vợ hiền tần tảo mang cơm ra tận ruộng cho chồng. Và cũng là bát chè tươi thơm tho, tươi mát từ tay cô hàng chè xanh rót cho một anh hai, anh ba đang lỡ độ đường.

“Trà xanh uống chén da lươn

Nàng ơi, hãy hé môi hường

Nghiêng mình cười nụ hà hương cho trà”

(Ca dao)

Hay là:

“Vắt chân chữ ngũ

Đánh củ khoai lang

Bớ mụ nhà hàng

Cho tôi bát nước”

(Phong dao)

 Quán chè tươi ven làng phần lớn bốn bên trống trải, nhìn ra là thấy bến nước, bến đò hoặc gần cổng làng, cổng chợ, bên gốc đa, gốc gạo,… mà trưa trưa, chiều chiều thường có vợ chồng anh hát xẩm dắt nhau về ngồi gần bên quán nước, chồng kéo nhị, vợ hát những câu tình tứ để đón khách đi chợ hoặc đi đồng về tạt ngang qua uống bát chè tươi, nói chuyện làng, chuyện xóm với nhau. Đến ngày hôm nay, trà đá là một thức uống giải khát điển hình ở khắp mọi quán ăn miền Nam.

 Uống trà cũng phải uống từng ngụm nhỏ, để cảm nhận hết cái dư vị thơm ngon của trà, cái hơi ấm của chén trà tỏa vào hai bàn tay ấp ủ nâng chén, làm ấm lòng viễn khách. Uống trà là một cách biểu thị sự tâm đắc, trình độ văn hóa và cảm tình cùng người đối thoại. Trong ấm trà ngon, người cùng uống tâm đầu ý hợp, dưới ánh trăng thanh gió mát, ngắm khung cảnh tĩnh mịch của núi rừng mà luận bàn thế sự thì không còn gì thú vị hơn nữa.

“Khi hương sớm, lúc trà trưa

Bàn lan điểm nước, đường tơ họa đàn”

(Nguyễn Du)

“Bách huân bán lãnh trà yên yết

Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn”

(Chu Văn An – Xuân đán)

Nghĩa là:

“Củi Bách tro tàn, trà đã nhạt

Bên khe chim hót, mộng xuân tan”

(Viên Trân dịch)

 Cao Bá Quát cũng có hai câu thơ nói về thú thưởng trà hòa với thiên nhiên rất tuyệt:

“Nhàn hô tăng hỏa phanh tân dính

Tọa ái giang yên lạc vãn tùng”

Nghĩa là:

“Nhàn xin sư, lửa nấu trà

Yêu xem khói sóng chiều tà bên thông”

 Cây trà mọc lên từ đất, lớn lên trong ánh mặt trời và tắm mình trong gió trong mưa, nên khi nhấp một chung trà, con người như uống cả thiên nhiên phong thủy hỏa thổ vào lòng với niềm vui sướng. Trà Việt mang tính chất gần gũi với thiên nhiên, nó dạy cho người thưởng trà cái tính cộng đồng, gần gũi, biết cảm ơn những người đã hai sương một nắng trên cánh đồng trà…

 Thưởng thức một chén trà mang phong cách Việt là việc mang nhiều ý nghĩa. Màu nước vàng sánh trong xanh, hương trà, hương hoa tự nhiên là hình ảnh Việt Nam với rừng vàng, biển bạc, tài nguyên phong phú. Vị đắng chát gợi lên nỗi vất vả, cần lao của những người làm trà truyền thống bao đời nay. Hậu vị ngọt mát của trà chính là tâm hồn người Việt giàu tình, giàu nghĩa, có thủy, có trung. Vì vậy mà chén trà cho con người gần điều thiện, xa lánh điều ác, đoàn kết hơn.

 Nghệ thuật uống trà phản ánh phong cách văn hóa ứng xử của người Việt Nam. Trong gia đình truyền thống, người nhỏ pha trà mời người lớn, phụ nữ pha trà mời các ông. Người ta có thể uống trà trong yên lặng suy ngẫm như để giao hòa với thiên nhiên.

 Lấy việc rót trà làm ví dụ, sau khi tráng chén bằng nước sôi cho sạch và giữ nhiệt, người ta xếp các chén vào sát nhau, tạo thành một hình tròn. Bình thường ai cũng nghĩ nó chỉ giúp cho việc rót trà dễ hơn. Nhưng nếu hiểu theo cái đạo của trà Việt thì sao? Các chén nằm sát nhau thể hiện sự gắn bó giữa con người với con người, cái tình làng nghĩa xóm khi mời nhau chén trà. Hình tròn của các chén xếp thành thể hiện mong muốn viên mãn, đầy đủ.

 Nói như Trần Ngọc Thêm: “Người Việt Nam mời nhau chén trà không chỉ đơn thuần là để giải khát, mà còn là biểu hiện một phong độ văn hóa thanh cao, một sự kết giao tri kỷ, một tấm lòng ước mong hòa hợp, một sự tâm đắc của những người đối thoại. Người Việt Nam mời nhau uống trà là để bắt đầu một lời tâm sự, để bàn chuyện gia đình, xã hội, chuyện thế thái nhân tình, để cảm thấy trong chén trà có cả hương vị của đất trời, cỏ cây và muôn vật.”

 Từ đó cho ta thấy, Văn hóa Việt Nam rất có giá trị. Chẳng phải cuộc sống cho chúng ta thấy rằng cái gì đơn giản nhất, mà làm cho con người an vui, hạnh phúc nhất thì cái đó có giá trị nhất.

 Qua trà Việt, chúng ta cũng thấy được phần nào sự tinh tế của người Việt Nam, thú hưởng thụ cuộc sống bằng những điều tưởng chừng như nhỏ nhoi, đơn giản nhưng chứa đựng biết bao tâm tình./.